Top 18 # Xem Nhiều Nhất Kết Quả Đánh Giá Học Sinh Tiểu Học / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Phuntanbotthammynammodel.com

Đánh Giá Kết Quả Học Tập Ở Tiểu Học. / 2023

Học phần: ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP Ở TIỂU HỌC.A. MỤC TIÊU HỌC PHẦN 1. Kiến thức – Nắm vững những khái niệm cơ bản về kiểm tra, đánh giá, nguyên tắc,loại hình, nội dung và kĩ thuật đánh giá kết quả học tập – Tiếp cận những văn bản của Bộ GD và ĐT quy định về việc đánh giá đối với bậc tiểu học. 2. Kĩ năng – Hình thành những kĩ năng cơ bản trong việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập ở tiểu học tập ở tiểu học như ra đề, soạn bài tập, xây dựng câu trắc nghiệm, chấm bài, nhận xét, cho điểm. – Biết cách thành lập hồ sơ,tính điểm tổng hợp, ghi nhận xét về học lực và hạnh kiểm của học sinh. – Rèn kĩ năng theo dõi, quan sát hành vi của học sinh trong học tập và sinh hoạt tập thể. – Biết cách xếp loại học lực, hạnh kiểm, ghi học bạ. 3. Thái độ – Trân trọng kết quả học tập của học sinh, theo dõi các hoạt động đánh giá ở tiểu học một cách hệ thống, khoa học. – Khách quan, công bằng, đúng mực trong việc đánh giá kết quả học tập của học sinh. – Tích cực đấu tranh phê phán những biểu hiện, hành vi tiêu cực trong lĩnh vực kiểm tra, thi cử ở trường tiểu học nói riêng và xã hội nói chung.Nghiêm túc, trung thực trong quá trình học tập và thi cử ở trường.B. NỘI DUNG HỌC PHẦNBài 1: Một số khái niệm cơ bản và chức năng của đánh giá kết quả học tập ở tiểu họcA. Mục tiêu 1. Kiến thức – Trình bày các khái niệm về đánh giá kết quả học tập. – Nhận diện và giải thích vai trò và chức năng của đánh giá kết quả học tập đối với quá trình dạy học. 2. Kĩ năng – Áp dụng những hiểu biết về khái niệm về đánh giá để phân loại các mẫu kiểm tra, đánh giá trong thực tiễn dạy học. – Xem xét, đánh giá tác dụng và vai trò của đánh giá đối với thực tiễn dạy học ở tiểu học 3. Thái độ – Có ý thức về tầm quan trọng của đánh giá trong việc nâng cao chất lượng dạy và học, nhận thức về mối quan hệ tương tác giữa đánh giá và dạy học. – Thể hiện tinh thần phê phán khoa học trong khi xem xét thực tiễn kiểm tra và đánh giá ở tiểu học.B. Nội dungI. Một số khái niệm cơ bản 1. Kiểm tra Là thuật ngữ chỉ cách thức hoặc hoạt động giáo viên sử dụng để thu thập thông tin về biểu hiện kiến thức, kĩ năng và thái độ của học sinh trong học tập nhằm cung cấp dữ kiện làm cơ sở cho việc đánh giá.

Trong ba lĩnh vực mục tiêu này, mục tiêu nhận thức thường chiếm vị trí cốt lõi trong các nội dung kiểm tra kết quả học tập. Theo Bloom, trong linhc vực nhận thức có sáu mức độ khác nhau, mỗi mức độ được thể hiện bởi một số khả năng và kĩ năng riêng biệt như sau: Biết; thông hiểu; ứng dụng; phân tích; tổng hợp; đánh giá. 1.3. Kết quả học tập cần đánh giá Sơ đồ diễn giải kết quả học tập cần đánh giá ở tiểu học:

Các kết quả học tập chuyên biệt(Các loại khả năng/ kĩ năng của học sinh mà chúng ta sẵn sàng chấp nhận như chứng cứ cho việc thực hiện được các mục tiêu đã đề ra)

Chưa thực hiện đầy đủ (CĐ)Nếu học sinh chưa thực hiện đầy đủ các nội dung quy định bên thì giáo viên cần ghi nhận xét cụ thể, rõ ràng những điểm các em chưa thực hiện được Cuối học kì I

Cuối năm học.

– Sau mỗi tiết hay phần bài học, Gv đưa nhận xét chung (hoàn thành, giỏi…) kèm với những chứng cứ về điều HS đã làm được và chưa làm được. – Khi đưa ra nhận xét tổng quát vào cuối HKI hoặc cuối năm học, ngoài xếp loại hoàn thành hoặc chưa hoàn thành, GV dựa vào các ghi nhận cụ thể có dược trong năm một cách khái quát về những hành vi HS thường làm thành những nhận định tổng quát về phẩm chất và năng lực của HS.* Những lưu ý: – Không hình dung rõ ràng những yêu cầu cần quan sát khi tiến hành giờ học thuộc môn học đánh giá bằng nhận xét. – Chỉ ghi nhận bằng các dấu  mà không kèm theo những chứng cứ về một vài biểu hiện tiêu biểu. – Ghi nhận xét kiểu: A = Hoàn thành; B = Chưa hoàn thành. – Chỉ dùng một bài kiểm tra viết hàng tháng (các môn đánh giá bằng nhận xét) rồi dựa vào đó để nhận xét. – Không ghi những nhận xét vụn vặt, thể hiện những hành vi nhất thời của học sinh vào học bạ. Ví dụ: môn Thể dục: tập đều đặn, thuộc động tác; môn TN – XH: có học bài, thuộc bài hoặc làm bài tốt – Không ghi những nhận xét chung chung như; tiến bộ; khéo tay; rèn thêm Toán; ngoan… 2. Đánh giá bằng điểm số 2.1. Đánh giá bằng điểm số là gì? Là sử dụng những mức điểm khác nhau trên một thang điểm để chỉ ra mức độ về kiến thức và kĩ năng mà HS đã thể hiện được qua một hoạt động hoặc sản phẩm học tập. Trong thang điểm, đi kèm với các mức điểm là phần miêu tả tương ứng cho từng mức điểm (hướng dẫn chấm điểm hoặc đáp án). Những tiêu chuẩn miêu tả cho từng mức điểm là căn cứ giúp GV giải thích ý nghĩa của các điểm số.Ví dụ: thang điểm 5 cho bài tập làm văn lớp 5

Bài 7: Kĩ thuật đánh giá kết quả học tập ở tiểu học.A. Mục tiêu 1. Kiến thức – Trình bày đặc điểm và quy trình của các kĩ thuật đánh giá kết quả học tập ở tiểu học. – Nhận ra ưu điểm và hạn chế của các kĩ thuật đánh giá trong thực tế sử dụng. 2. Kĩ năng – Áp dụng những hiểu biết trên để tìm hiểu và đánh giá các mẫu bài trắc nghiệm, bài tự luận, bài thực hành trong thực tiễn dạy học. – Bước đầu biên soạn các dạng bài kiểm tra: bài tự luận, bài trắc nghiệm và bài thực hành. – Thực hành quan sát ghi nhận thông tin để đánh giá hạnh kiểm của học sinh. – Thực hành kĩ năng tổng hợp thông tin, ghi nhận xét trong học bạ và sổ liên lạc. 3. Thái độ – Có ý thức về tầm quan trọng của việc sử dụngcông cụ, kĩ thuật đánh giá phù hợp mục tiêu dạy học đối với việc nâng cao chất lượng dạy và học. – Góp phần phát tiển thái độ khoa học, nghiêm túc trong xây dựng và thực hiện.I. Kĩ thuật quan sát1. Phân loại các kiểu quan sát1.1. Quan sát quá trình: là theo dõi hoặc lắng nghe học sinh đang thực hiện các hoạt động học tập.1.2. Quan sát sản phẩm: là xem xét sản phẩm học tập của học sinh sau một hoạt động. Sau khi quan sát, giáo viên nhận xét, đánh giá. Năm lĩnh vực mục tiêu có thể được đánh giá bằng phương pháp quan sát.Lĩnh vực mục tiêu Các hành vi điển hìnhKĩ năng Nói, viết, nghe, đọc, làm thí nghiệm, vẽ chơi các loại nhạc cụ, hát, múa, thể dục, kĩ năng nghiên cứu, kĩ năng tự học, kĩ năng xã hội.Thói quen học tập Sắp xếp thời gian học tập, sử dụng phương tiện có sẵn để học tập tốt, có óc sáng tạo,kiên trì, đáng tin cậy.Thái độ xã hội Quan tâm đến sự an toàn của người khác, tôn trọng của công, tôn trọng pháp luật, tôn trọng quyền sử hữu của người khác, có mong muốn làm việc để cho cộng đồng tập thể ngày càng tốt hơn, nhạy cảm với các vấn đề xã hộiThái độ học tập Sẵn sàng tiếp thu cái mới, nhạy cảm đối với các mối quan hệ, có óc hoài nghi khoa học (hỏi hay tự đặt câu hỏi và tìm cách trả lời).Thái độ thẩm mĩ Yêu thích thiên nhiên, nghệ thuật, yêu thích môn học,có óc thẩm mĩ, nhạy cảm với những biểu hiện của cái đẹp.

2. Cách thức quan sátNắm và thường xuyên tham chiếu nội dung hạnh kiểm và bảng hướng dẫn chi tiết về các biểu hiện cụ thể của mỗi lĩnh vực nội dung hạnh kiểm. Trên cơ sở đó giáo viên theo dõi và ghi nhận xét học sinh vào sổ theo dõi kết quả kiểm tra, đánh giá học sinh tiểu họcLĩnh vực Biểu hiện cụ thể (chứng cứ)Nhiệm vụ 1: Tôn trọng người khác và có mối quan hệ cá nhân tốt.Nhận xét 1.1:– Biết kính trọng thầy giáo, cô giáo và người lớn – Lễ phép, chào hỏi thầy, cô giáo và người lớn tuổi.– Xưng hô đúng mực với thầy, cô giáo và người lớn tuổi.– Đợi đến lượt mình không cắt ngang khi người lớn đang nói chuyện.Nhậ xét 1.2-. Đoàn kết, ứng xử tốt với bạn bè – Giúp đỡ bạn bè.– Đoàn kết với bạn bè.– Ứng xử đúng mực với các bạn.Nhiệm vụ 2: Thể hiện thái độ ứng xử tích cực trong trường.Nhận xét 2.1:– Đi học đều và đúng giờ – Nghỉ học có xin phép.– Ít khi đến lớp muộn.Nhận xét 2.2:– Góp phân giữ gìn trật tự lớp học. – Tuân thủ chỉ dẫn của giáo vien trong học tập và sinh hoạt.– Giữ trật tự, chú ý nghe giảng trong lớp.Nhiệm vụ 3: Chăm sóc, giữ gìn vệ sinh thân thể và hình thức của bản thân.Nhận xét 3.1:– Chú ý đến hình thức của bản thân. – Tập thể dục đều đặn.– Tự giác, tích cực trong các giừ tập thể dục.– Giữ gìn thân thể sạch sẽ.Nhận xét 3.2:– Biết giữ gìn vệ sinh cá nhân. – Thực hiện vệ sinh cá nhân.– Quần áo, đầu tóc gọn gàng, sạch sẽ.– Giữ gìn vệ sinh khi ăn uống.Nhiệm vụ 4: Đóng góp vào các họt động của trường học.Nhận xét 4.1:– Tham gia các hoạt động tập thể của trường,lớp. – Tham gia đầy đủ các hoạt động tập thể của trường, lớp.– Tự giác, tích cực trong các hoạt động.– nhiệt tình, đóng góp cho các hoạt động chung.Nhận xét 4.2:– Giữ gìn, bảo vệ tài sản của cá nhân, trường, lớp và nơi công cộng.Bước đầu biết thực hiện các quy tắc về an toàn giao thông và trật tự xã hội. – Giữ gìn sách vở và đồ dùng học tập.– Giữ gìn và bảo vệ tài sản của trường.– Chấp hành các quy tắc trang trí lớp học.– Thực hiện các quy tắc về an toàn giao thông.

Đổi Mới Kiểm Tra Đánh Giá Kết Quả Học Tập Của Học Sinh / 2023

Đổi mới phương pháp dạy học cần gắn liền với đổi mới về đánh giá quá trình dạy học cũng như đổi mới việc kiểm tra và đánh giá thành tích học tập của HS. Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập thông tin, phân tích và xử lý thông tin, giải thích thực trạng việc đạt mục tiêu giáo dục, tìm hiểu nguyên nhân, ra những quyết định sư phạm giúp HS học tập ngày càng tiến bộ.

1. Đánh giá theo năng lực Theo quan điểm phát triển năng lực, việc đánh giá kết quả học tập không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm của việc đánh giá. Đánh giá kết quả học tập theo năng lực cần chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau. Đánh giá kết quả học tập đối với các môn học và hoạt động giáo dục ở mỗi lớp và sau cấp học là biện pháp chủ yếu nhằm xác định mức độ thực hiện mục tiêu dạy học, có vai trò quan trọng trong việc cải thiện kết quả học tập của HS. Hay nói cách khác, đánh giá theo năng lực là đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ trong bối cảnh có ý nghĩa (Leen pil, 2011).

Xét về bản chất thì không có mâu thuẫn giữa đánh giá năng lực và đánh giá kiến thức kỹ năng, mà đánh giá năng lực được coi là bước phát triển cao hơn so với đánh giá kiến thức, kỹ năng. Để chứng minh HS có năng lực ở một mức độ nào đó, phải tạo cơ hội cho HS được giải quyết vấn đề trong tình huống mang tính thực tiễn. Khi đó HS vừa phải vận dụng những kiến thức, kỹ năng đã được học ở nhà trường, vừa phải dùng những kinh nghiệm của bản thân thu được từ những trải nghiệm bên ngoài nhà trường (gia đình, cộng đồng và xã hội). Như vậy, thông qua việc hoàn thành một nhiệm vụ trong bối cảnh thực, người ta có thể đồng thời đánh giá được cả kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hiện và những giá trị, tình cảm của người học. Mặt khác, đánh giá năng lực không hoàn toàn phải dựa vào chương trình giáo dục môn học như đánh giá kiến thức, kỹ năng, bởi năng lực là tổng hòa, kết tinh kiến thức, kỹ năng, thái độ, tình cảm, giá trị, chuẩn mực đạo đức,… được hình thành từ nhiều lĩnh vực học tập và từ sự phát triển tự nhiên về mặt xã hội của một con người.

Có thể tổng hợp một số dấu hiệu khác biệt cơ bản giữa đánh giá năng lực người học và đánh giá kiến thức, kỹ năng của người học như sau:

Tiêu chí so sánh Đánh giá năng lực Đánh giá kiến thức, kỹ năng

1. Mục đích chủ yếu nhất

2. Ngữ cảnh đánh giá

Gắn với ngữ cảnh học tập và thực tiễn cuộc sống của HS.

Gắn với nội dung học tập (những kiến thức, kỹ năng, thái độ) được học trong nhà trường.

3. Nội dung đánh giá

4. Công cụ đánh giá

Nhiệm vụ, bài tập trong tình huống, bối cảnh thực.

Câu hỏi, bài tập, nhiệm vụ trong tình huống hàn lâm hoặc tình huống thực.

5. Thời điểm đánh giá

Đánh giá mọi thời điểm của quá trình dạy học, chú trọng đến đánh giá trong khi học.

Thường diễn ra ở những thời điểm nhất định trong quá trình dạy học, đặc biệt là trước và sau khi dạy.

6. Kết quả đánh giá

2. Định hướng đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS Đánh giá kết quả giáo dục các môn học, hoạt động giáo dục ở mỗi lớp và sau cấp học cần phải:

Dựa vào cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng (theo định hướng tiếp cận năng lực) từng môn học, hoạt động giáo dục từng môn, từng lớp; yêu cầu cơ bản cần đạt về kiến thức, kĩ năng, thái độ (theo định hướng tiếp cận năng lực) của HS của cấp học. Phối hợp giữa đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì, giữa đánh giá của GV và tự đánh giá của HS, giữa đánh giá của nhà trường và đánh giá của gia đình, cộng đồng. Kết hợp giữa hình thức đánh giá bằng trắc nghiệm khách quan và tự luận nhằm phát huy những ưu điểm của mỗi hình thức đánh giá này. Có công cụ đánh giá thích hợp nhằm đánh giá toàn diện, công bằng, trung thực, có khả năng phân loại, giúp GV và HS điều chỉnh kịp thời việc dạy và học. Việc đổi mới công tác đánh giá kết quả học tập môn học của GV được thể hiện qua một số đặc trưng cơ bản sau:

b) Tiến hành đánh giá kết quả học tập môn học theo ba công đoạn cơ bản là thu thập thông tin, phân tích và xử lý thông tin, xác nhận kết quả học tập và ra quyết định điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động học. Yếu tố đổi mới ở mỗi công đoạn này là:

Cần sử dụng phối hợp các hình thức, phương pháp kiểm tra, đánh giá khác nhau. Kết hợp giữa kiểm tra miệng, kiểm tra viết và bài tập thực hành. Kết hợp giữa trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan. Hiện nay ở Việt Nam có xu hướng chọn hình thức trắc nghiệm khách quan cho các kỳ thi tốt nghiệp hay thi tuyển đại học. Trắc nghiệm khách quan có những ưu điểm riêng cho các kỳ thi này. Tuy nhiên trong đào tạo thì không được lạm dụng hình thức này. Vì nhược điểm cơ bản của trắc nghiệm khách quan là khó đánh giá được khả năng sáng tạo cũng như năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp.

Theo Tủ sách thư viên khoa học

Dự Thảo Đánh Giá Học Sinh Tiểu Học / 2023

Trao đổi với Dân trí, ông Phạm Ngọc Định – Vụ trưởng Vụ Giáo dục Tiểu học (Bộ GD-ĐT) cho biết: Tinh thần của quy định này là giảm áp lực về điểm số đối với bậc tiểu học mà thay vào đó đánh giá vì sự tiến bộ của học sinh (HS), coi trọng việc động viên, khuyến khích tính tích cực và vượt khó trong học tập, rèn luyện của HS; giúp HS phát huy được hết khả năng của mình; bảo đảm kịp thời, công bằng, khách quan.

Đánh giá toàn diện HS thông qua đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến kiến thức, kĩ năng và một số biểu hiện năng lực, phẩm chất của HS theo mục tiêu giáo dục tiểu học; Kết hợp đánh giá của giáo viên (GV), HS, phụ huynh HS, trong đó đánh giá giáo viên là quan trọng nhất; Đánh giá sự tiến bộ của HS, không so sánh HS này với HS khác, không tạo áp lực cho HS, GV và phụ huynh HS.

Coi trọng đánh giá năng lực và phẩm chất học sinh

Theo Bộ GD-ĐT, các năng lực của HS được hình thành và phát triển trong quá trình trải nghiệm, tham gia thường xuyên vào các hoạt động học tập, sinh hoạt tập thể, vận dụng kiến thức trong cuộc sống hàng ngày. Điều này được thể hiện qua việc tự phục vụ, tự quản; giao tiếp hợp tác; tự học và giải quyết vấn đề.

Tăng cường nhận xét đánh giá về năng lực, phẩm chất học sinh hơn là điểm số đối với bậc tiểu học.

Các phẩm chất của HS được hình thành và phát triển trong quá trình trải nghiệm, tham gia thường xuyên vào các hoạt động học tập, sinh hoạt tập thể, vận dụng kiến thức trong cuộc sống hàng ngày; chia sẻ, hợp tác, giao tiếp, ứng xử với bạn bè, thầy cô, người lớn. Điều này được thể hiện qua việc chăm học, chăm làm, tích cực tham gia hoạt động giáo dục; Tự tin, tự trọng, tự chịu trách nhiệm; Trung thực, kỉ luật, đoàn kết; Yêu gia đình, bạn bè, con người.

GV sẽ quan sát các biểu hiện trong hoạt động của học sinh hàng ngày, hàng tuần để nhận xét, nhận định sự hình thành và phát triển một số năng lực, phẩm chất, từ đó động viên, khích lệ, giúp HS khắc phục khó khăn, phát huy ưu điểm và các tố chất riêng, điều chỉnh hoạt động để tiến bộ, ứng xử kịp thời để tiến bộ.

Hàng tháng GV tổng hợp nhận xét của mình, ý kiến trao đổi của phụ huynh (nếu có) để nhận xét, nhận định sự hình thành và phát triển một số năng lực, phẩm chất của từng HS, đặc biệt lưu ý những điểm hạn chế cần khắc phục của HS, ghi rõ nội dung, biểu hiện cụ thể để có giải pháp, giúp đỡ kịp thời HS đó.

Cả HS và phụ huynh tham gia đánh giá thường xuyên

Vụ trưởng Vụ Giáo dục Tiểu học tiết lộ thêm, lâu nay việc đánh giá thường xuyên HS được thông qua bằng điểm số nhưng ở quy định mới này được chuyển sang bằng nhận xét. Việc làm này sẽ giảm áp lực cho cả HS lẫn phụ huynh. Ngoài việc GV đánh giá thì quy định này cũng cho phép cả HS và phụ huynh cùng tham gia đánh giá.

Cụ thể, với GV thì căn cứ vào đặc điểm và mục tiêu bài học, của mỗi hoạt động mà HS phải thực hiện trong bài học sẽ tiến hành thường xuyên quan sát, theo dõi, đối thoại, phỏng vấn, kiểm tra tiến trình thực hiện nhiệm vụ và sản phẩm của HS, nhóm HS theo tiến trình bài học. Nhận định, nhận xét bằng lời nói trực tiếp với HS hoặc viết nhận xét vào phiếu, vở của HS về những nội dung đã làm hoặc chưa làm được đối với từng HS, nhóm HS; mức độ hiểu biết kiến thức; khả năng thực hiện các thao tác,…

Chỉ ra nguyên nhân và biện pháp cụ thể giúp HS vượt qua khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ trong quá trình học tập đối với những HS có quá trình thực hiện chưa đúng, chưa đạt yêu cầu; Quan tâm tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập trong bài học của HS, chấp nhận sự khác nhau về thời gian, mức độ hoàn thành.

“Quan điểm của chúng tôi, GV không dùng điểm số để đánh giá thường xuyên. Khi nhận xét, GV cần đặc biệt lưu ý sự tiến bộ của từng HS để động viên, khích lệ giúp HS tự tin” – Vụ trưởng Phạm Ngọc Định bày tỏ.

Đối với phụ huynh thì sẽ được GV hướng dẫn quan sát HS học tập, hoạt động giáo dục hoặc cùng tham gia các hoạt động học tập, hoạt động giáo dục với HS, quan sát việc ứng dụng kiến thức trong cuộc sống hàng ngày của HS, đưa ra các nhận xét, nhận định, đánh giá HS bằng lời nói trực tiếp với GV hoặc ghi vào phiếu đánh giá hoặc sổ liên lạc, phối hợp với GV và nhà trường động viên, giúp đỡ các em học tập, rèn luyện.

Xóa bỏ xếp loại học lực, lưu ban ở bậc tiểu học

Theo dự thảo của Bộ GD-ĐT thì việc xếp loại HS tiểu học sẽ được xóa bỏ mà thay vào đó là đạt hoặc chưa đạt.

HS được coi là hoàn thành chương trình lớp học nếu đáp ứng được các yêu cầu: Đánh giá thường xuyên đối với tất cả các môn học, hoạt động giáo dục, đạt hoàn thành; Mức độ hình thành và phát triển một số năng lực đạt; Mức độ hình thành và phát triển một số phẩm chất đạt. Đánh giá định kì kết quả học tập cuối năm học các môn học theo quy định đạt điểm 5 trở lên.

Việc đánh giá định kì kết quả học tập, mức độ đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng theo chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học được thực hiện vào cuối học kì I và cuối năm học đối với các môn học: Tiếng Việt, Toán, Khoa học, Lịch sử và Địa lý, Ngoại ngữ, Tin học, tiếng dân tộc bằng bài kiểm tra định kì. Đề kiểm tra định kì phù hợp với chuẩn kiến thức, kĩ năng, gồm các câu hỏi, bài tập được thiết kế theo các mức độ nhận thức của HS.

Cụ thể, mức 1- HS nhận biết hoặc nhớ, nhắc lại đúng kiến thức đã học; diễn đạt đúng kiến thức hoặc mô tả đúng kĩ năng đã học bằng ngôn ngữ theo cách riêng của mình và áp dụng trực tiếp kiến thức, kĩ năng đã biết để giải quyết các tình huống, vấn đề trong học tập.

Mức 2 – HS kết nối, sắp xếp lại các kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết tình huống, vấn đề mới, tương tự tình huống, vấn đề đã học.

Mức 3 – HS vận dụng các kiến thức, kĩ năng để giải quyết các tình huống, vấn đề mới, không giống với những tình huống, vấn đề đã được dẫn hay đưa ra những phải hồi hợp lí trước một tình huống, vấn đề mới trong học tập hoặc trong cuộc sống.

Với HS chưa hoàn thành chương trình lớp học thì GV phải lập kế hoạch, trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ từng HS; đánh giá bổ sung để xét hoàn thành chương trình lớp học. Với những HS đã được GV trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ mà vẫn chưa đạt ít nhất một trong các tiêu chuẩn quy định nêu trên thì tùy theo mức độ chưa hoàn thành ở các môn học, hoạt động giáo dục, bài kiểm tra định kì, mức độ hình thành và phát triển một số năng lực, phẩm chất, lập danh sách báo cáo hiệu trưởng để quyết định việc lên lớp hoặc ở lại lớp, đưa vào nội dung cam kết và bàn giao chất lượng giáo dục, lập kế hoạch cụ thể động viên, giúp đỡ trong năm học tiếp theo.

Cam kết và bàn giao chất lượng giáo dục

Để đảm bảo việc đánh giá HS là khách quan và trung thực, dự thảo Bộ GD-ĐT đưa ra quy định cam kết và bàn giao chất lượng giáo dục nhằm nâng cao vai trò trách nhiệm của GV; giúp GV sẽ nhận lớp trong năm học tiếp theo có đầy đủ thông tin cần thiết về quá trình và kết quả học tập, mức độ hình thành và phát triển một số năng lực, phẩm chất của HS để có kế hoạch, biện pháp giáo dục hiệu quả.

Theo đó, vào cuối năm học hoặc đầu năm học mới, hiệu trưởng trường tiểu học chỉ đạo tổ chức cam kết và bàn giao chất lượng giáo dục. GV chủ nhiệm các lớp 1, 2, 3, 4 tổ chức họp với GV sẽ nhận lớp vào năm học kế tiếp để bàn giao hồ sơ đánh giá từng HS; nhận xét, nhận định những nét nổi bật hoặc hạn chế cần khắc phục về mức độ nhận thức, đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng môn học, hoạt động giáo dục; mức độ hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của HS; ghi biên bản cam kết và bàn giao chất lượng giáo dục. Đối với GV chủ nhiệm lớp 5 cam kết và bàn giao chất lượng giáo dục, hồ sơ đánh giá của HS với hiệu trưởng.

Trưởng phòng GD-ĐT chỉ đạo các nhà trường tổ chức bàn giao chất lượng giáo dục, sổ tổng hợp đánh giá và các bài kiểm tra định kì cuối năm lớp 5 của HS đã hoàn thành chương trình tiểu học lên lớp 6 phù hợp với điều kiện của các nhà trường và địa phương.

Dự thảo này cũng nêu rõ, hiệu trưởng chịu trách nhiệm về tổ chức thực hiện đánh giá HS, chất lượng giáo dục HS; báo cáo kết quả thực hiện về phòng GD-ĐT.

Giáo viên chủ nhiệm chịu trách nhiệm chính trong việc đánh giá HS, chất lượng giáo dục HS trong lớp; bàn giao và cam kết chất lượng giáo dục HS; hoàn thành hồ sơ đánh giá HS theo quy định; thực hiện cam kết, bàn giao chất lượng giáo dục HS.

Khi được yêu cầu, thông báo đánh giá quá trình học tập, rèn luyện và kết quả học tập của HS cho phụ huynh của HS đó. Không thông báo trước lớp và trong cuộc họp phụ huynh những điểm chưa tốt của từng HS.

Nguyễn Hùng

Nhiều Điểm Mới Trong Đánh Giá Học Sinh Tiểu Học / 2023

Thông tư 27 quy định, giáo viên đánh giá học sinh thường xuyên về nội dung học tập các môn học, hoạt động giáo dục.

Giáo viên được phép cho điểm 0 với học sinh.

Giáo viên được sử dụng linh hoạt, phù hợp các phương pháp đánh giá, thông qua lời nói chỉ ra cho học sinh biết được chỗ đúng, chưa đúng và cách sửa chữa; viết nhận xét vào vở hoặc sản phẩm học tập của học sinh khi cần thiết, có biện pháp cụ thể giúp đỡ kịp thời.

Đặc biệt, khi thông tư 27 có hiệu lực, giáo viên tiểu học được phép chấm điểm 0 vào bài kiểm tra định kỳ hoặc trả lại bài tập cho học sinh khi chưa đạt yêu cầu.

Trước đó, theo quy định tại Thông tư 22 quy định “không cho điểm 0” đối với bài kiểm tra của học sinh tiểu học.

Bên cạnh đó, Bộ GD&ĐT cũng quy định cụ thể, về đề kiểm tra định kỳ của học sinh tiểu học được thiết kế phù hợp với yêu cầu cần đạt và các biểu hiện cụ thể về các thành phần năng lực của môn học, gồm các câu hỏi, bài tập theo các mức:

Mức 1: Nhận biết, nhắc lại hoặc mô tả được nội dung đã học và áp dụng trực tiếp để giải quyết một số tình huống, vấn đề quen thuộc trong học tập

Mức 2: Kết nối, sắp xếp được một số nội dung đã học để giải quyết vấn đề có nội dung tương tự

Mức 3: Vận dụng các nội dung đã học để giải quyết một số vấn đề mới hoặc đưa ra những phản hồi hợp lý trong học tập và cuộc sống.

Vào cuối năm học, căn cứ vào quá trình tổng hợp kết quả đánh giá về học tập từng môn học, hoạt động giáo dục và từng phẩm chất chủ yếu, năng lực cốt lõi, giáo viên chủ nhiệm thực hiện đánh giá kết quả giáo dục học sinh theo bốn mức:

Hoàn thành xuất sắc là những học sinh có kết quả đánh giá các môn học, hoạt động giáo dục đạt mức Hoàn thành tốt; các phẩm chất, năng lực đạt mức Tốt; bài kiểm tra định kỳ cuối năm học của các môn học đạt 9 điểm trở lên;

Hoàn thành tốt: Những học sinh chưa đạt mức Hoàn thành xuất sắc, nhưng có kết quả đánh giá các môn học, hoạt động giáo dục đạt mức Hoàn thành tốt; các phẩm chất, năng lực đạt mức Tốt; bài kiểm tra định kỳ cuối năm học các môn học đạt 7 điểm trở lên;

Hoàn thành: Những học sinh chưa đạt mức Hoàn thành xuất sắc và Hoàn thành tốt, nhưng có kết quả đánh giá các môn học, hoạt động giáo dục đạt mức Hoàn thành tốt hoặc Hoàn thành; các phẩm chất, năng lực đạt mức Tốt hoặc Đạt; bài kiểm tra định kỳ cuối năm học các môn học đạt 5 điểm trở lên;

Đánh giá ở mức chưa hoàn thành là những học sinh không thuộc các đối tượng trên.

D.Ngân