Top 17 # Xem Nhiều Nhất Đánh Giá Rủi Ro Bảo Hiểm / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Phuntanbotthammynammodel.com

Đánh Giá Rủi Ro Bảo Hiểm Cháy Nổ / 2023

BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ RỦI RO I. INTRODUCTION/ THÔNG TIN VỀ NGƯỜI ĐƯỢC BẢO HIỂM

…………………………………………………………………………………………….

…………………………………………………………………………………………….

…………………………………………………………………………………………….

…………………………………………………………………………………………….

…………………………………………………………………………………………….

…………………………………………………………………………………………….

…………………………………………………………………………………………….

…………………………………………………………………………………………….

…………………………………………………………………………………………….

II. LOCATION AND EXPOSURE/ ĐỊA ĐIỂM VÀ RỦI RO

…………………………………………………………………………………………….

……………………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………………….

…………………………………………………………………………………………….

……………………………………………………………………………………………

III. SUM INSURED/ GIÁ TRỊ BẢO HIỂM IV. ELETRICAL/ HỆ THỐNG ĐIỆN

Number/ Số lượng: Type/ Loại:

Number/ Số lượng: Type/ Loại:

Number/ Số lượng: Type/ Loại:

…………………………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

Number/ số lượng:

Condition/ Tình trạng: (Số năm đã sử dụng, nước sản xuất)

Number/ số lượng:

Condition/ Tình trạng: (Số năm đã sử dụng, nước sản xuất)

3. Gas/Ga

Number/ số lượng:

Condition/ Tình trạng: (Số năm đã sử dụng, nước sản xuất):

…………………………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………………………

Gutter around factory/ Rãnh thoát nước quanh xưởng:

Condition/ Điều kiện :

…………………………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………………………

Number/ Số lượng: Type/ Loại:

Position/ Vị trí:

…………………………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………………………

Public water suply/ Nước chữa cháy công cộng:

Fire pump/ Máy bơm chữa cháy:

Volume of fire water/ Dung tích bể nước chữa cháy:

Number/ Số lượng:

Distribution/ cách lắp đặt:

…………………….. ………………………

…………………….. ………………………

…………………….. ………………………

No Smoking Policy/ Quy định không hút thuốc

………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

Number of person/ Số người:

Regular fire drill/ Thời gian tập luyện:

……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

Khoảng cách và thời gian cho lực lượng PCCC chuyên nghiệp đến địa điểm rủi ro?

……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

XI. SECURITY/ BẢO VỆ

……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

XIII. LOSS EXPERIENCE/ TỔN THẤT ĐÃ XẢY RA Nếu có, ghi rõ Số tiền tổn thất, địa điểm tổn thất, Thời gian tổn thất và Nguyên nhân tổn thất

……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

XIV. OPINION OF SURVEYOR/ Ý KIẾN CỦA GIÁM ĐỊNH VIÊN

…………………………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………………………

Rủi Ro Và Những Khái Niệm Về Rủi Ro Trong Bảo Hiểm / 2023

1. Định nghĩ về rủi ro

Rủi ro được hiểu đơn giản là những điều không may mắn xảy ra mà bạn không thể lường trước được về khả năng, mức độ, thời gian, không gian và hậu quả của nó.

Rủi ro thường mang tính khách quan. Có những loại rủi ro có thể gây ra thiệt hại cho tài sản này nhưng lại không gây ra thiệt hại cho tài sản khác. Chẳng hạn như mưa đá, úng, hạn hán gây hại cho từng loại cây trồng nhất định. Vì vậy, nếu con người cố ý tự gây ra cho mình những điều có thể lường trước được về không gian, thời gian thì đó không được gọi là rủi ro.

2. Các mức độ rủi ro

Rủiro luôn có khả năng phát sinh và gây tác hại khác nhau. Vì vậy, bạn có thể đánh giá được mức độ rủi ro nặng nhẹ thông qua 2 tiêu thức là: tần suất xuất hiện rủi ro và mức độ nghiêm trọng của rủi ro.

+ Tần suất xuất hiện rủi ro: tức là số lần có thể xuất hiện rủi ro được xác định trong 1 khoảng thời gian nhất định; hoặc là khoảng cách trung bình của thời gian xuất hiện các rủi ro.

Ví dụ: cứ 10 năm thì xuất hiện 1 đợt lũ lụt gần đê sông Hồng. Vậy tần suất xuất hiện rủi ro này là cứ 50 năm thì có 5 lần xuất hiện lũ lụt ở khu vực đê sông Hồng.

+ Mức độ nghiêm trọng của rủi ro: đây còn được gọi là tính khốc liệt của tổn thất. Tổn thất chính là hậu quả trực tiếp của rủi ro. Mỗi đối tượng khác nhau sẽ chịu tổn thất khác nhau khi gặp rủi ro.

Ví dụ: Băng giá có thể gây hại cho loại cây trồng này như ng không gây hại cho cây trồng khác.

3. Phân chia các dạng tổn thất

Tổn thất được người ta được chia làm nhiều dạng khác nhau, cụ thể gồm các dạng như sau:

Một là, tổn thất về vật chất và thu nhập

Đây là dạng tổn thất có thể đo lường cũng như bù đắp được thông qua việc sửa chữa, khôi phục và thay thế. Như vậy, công ty bảo hiểm thường chấp nhận bảo hiểm cho những tổn thất này.

Hai là, tổn thất về tinh thần/tình cảm

Đây là những tổn thất khó được được giá trị của nó, và dường như không có cách nào bù đắp được. Chẳng hạn như: mất đi một người thân, chia tay một cuộc tình,…

Ba là, tổn thất về tính mạng hay sức khoẻ

Dạng tổn thất này không có cách nào đo được giá trị bằng tiền. Tuy nhiên, người ta vẫn có thể thoả thuận, quy ước với nhau số biền bảo hiểm để bù đắp tổn thất, trong các trường hợp cụ thể như: chết người, khuyết tật,… Ngoài ra, người ta vẫn có thể lượng hoá được sức khoẻ của con người bằng cách tính tỷ lệ % mất khả năng lao động.

Trong lĩnh vực bảo hiểm, có những tổn thất không đáng kể hoặc tổn thất quá lớn đến mức không thể đo lường và đánh giá giá trị thiệt hại. Với những tổn thất không đáng kể, bạn có thể tự khắc phục mà không cần nhờ đến bảo hiểm. Với những tổn thất quá lớn mà doanh nghiệp (hoặc nhiều doanh nghiệp phối hợp) không thể bù đắp được thì thường bị loại trừ bảo hiểm. Thay vào đó, những tổn thất đó sẽ được hỗ trợ xử lý bởi chính phủ, xã hội.

4. Phân loại rủi ro trong bảo hiểm

Rủi ro có nhiều loại khác nhau. Vì vậy rủi ro đã được phân loại cụ thể để người ta dễ dàng nhận biết và phân biệt chúng. Có các loại rủi ro sau đây:

– Rủi ro tài chính/rủi ro phi tài chính

+ Rủi ro tài chính là loại rủi ro có thể đo lường được hậu quả của nó bằng tiền. Thiệt hại này là chi phí khôi phục sửa chữa, thay thế bộ phận tài sản bị mất mát đó.

Ngoài ra, những thiệt hại gây ra tổn thất về người cũng có thể đo lường bằng tiền như: chi phí điều trị, sự giảm sút thu nhập do mất khả năng lao động…

+ Rủi ro phi tài chính là loại rủi ro không thể đo lường được hậu quả của nó bằng tiền. Hay nói cách khác, đây được coi là rủi ro không gây ra thiệt hại về mặt tài chính.

– Rủi ro thuần tuý/rủi ro đầu cơ

+ Rủi to thuần tuý là các rủi ro thường gây ra thiệt hại hoặc ở mức hoà vốn, không có nhân tố lợi nhuận. Rủi ro này không bao gồm các rủi ro cháy nhà, mất trộm, tai nạn giao thông, tai nạn lao động,…

+ Rủi ro đầu cơ là các rủi ro có nhân tố lợi nhuận bên trong. Ví dụ như đầu tư cổ phiếu, chứng khoán, trích trữ hàng hoá,… để kiếm lời. Việc đầu tư này có thể lỗ hoặc hoà vốn nhưng mục đích cuối cùng là để kiếm lãi.

– Rủi ro riêng/rủi ro chung

+ Rủi ro riêng là các rủi ro chỉ gây ra thiệt hại cho một hoặc một ít người, mang tính chất cá nhân ở cả nguyên nhân và hậu quả. Chẳng hạn như rủi ro: trộm cướp, thương tích, hoả hoạn,…

+ Rủi ro chung là các rủi ro không thuộc vòng kiểm soát, gây ra hậu quả cho xã hội. Chẳng hạn như rủi ro: thiên tai, lũ lụt, núi lửa phun trào,…

– Rủi ro có thể được bảo hiểm

Không phải tất cả các rủi ro đều được bảo hiểm bởi các doanh nghiệp bảo hiểm. Bởi vì, một rủi ro đủ điều kiện được bảo hiểm thì phải có đủ các đặc tính sau:

+ Tổn thất đó phải mang tính chất ngẫu nhiên

+ Tổn thất đó phải đo lường được, định lượng được về mặt tài chính

+ Phải là rủi ro đủ lớn, có thể dự đoán được mức độ tổn thất mà họ phải chịu

+ Rủi ro không trái với các quy tắc, chuẩn mực đạo đức của xã hội

– Rủi ro được bảo hiểm/rủi ro loại trừ

+ Rủi ro được bảo hiểm: là các rủi ro về tai nạn, thiên tai, sự cố bất ngờ được các doanh nghiệp/công ty bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm. Nếu các rủi ro này gây ra thiệt hại đối với đối tượng bảo hiểm thì phía nhà cung cấp sản phẩm bảo hiểm sẽ chịu trách hiệm bồi thường tiền bảo hiểm cho đối tượng được bảo hiểm.

Các rủi ro thuộc phạm vi được bảo hiểm gồm có rủi ro tài chính, rủi ro thuần tuý và rủi ro riêng. Các rủi ro này sẽ được nêu chi tiết trong mục quy tắc bảo hiểm, điều khoản bảo hiểm hay hợp đồng bảo hiểm.

+ Rủi ro loại trừ: là các rủi ro không được chấp nhận bảo hiểm, không được bồi thường và chi trả quyền lợi bảo hiểm khi xảy ra. Mỗi đơn vị cung cấp sản phẩm bảo hiểm sẽ có các rủi ro loại trừ không cố định. Nhưng tất cả đều áp dụng loại trừ các rủi ro xuất hiện do hành vi cố ý của người tham gia bảo hiểm.

6. Cách phòng tránh rủi ro

Kết lại, bảo hiểm là một ngành dịch vụ được ra đời với mục tiêu phục vụ nhu cầu được bảo vệ của khách hàng. Có thể hiểu rằng, dịch vụ bảo hiểm tạo ra cơ chế chuyển giao rủi ro và có thể thay đổi linh hoạt theo thời gian để phù hợp với xu hướng và thị hiếu của khách hàng. Dù doanh nghiệp hay cá nhân thì luôn luôn đứng trước nhiều rủi ro không lường trong cuộc sống. Do vậy, ai cũng nên tham gia các sản phẩm bảo hiểm để an toàn tài chính trong thời buổi này!

Hy vọng những thông tin về rủi ro trong bảo hiểm mà Banky vừa cung cấp sẽ giúp các bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về rủi ro và cách phòng ngừa rủi ro thiết thực nhất. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào về các rủi ro trong bảo hiểm, chỉ cần để lại câu hỏi ở dưới bài viết, Banky sẽ giúp bạn giải đáp nhanh chóng và chính xác nhất!

Đánh Giá Rủi Ro Và Đánh Giá Định Lượng Rủi Ro / 2023

Đánh giá rủi ro và đánh giá định lượng rủi ro được ghi rõ trong QCVN 11 : 2012/BCT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về mức rủi ro chấp nhận được trong đánh giá định lượng rủi ro cho các hoạt động dầu khí, xăng dầu, hóa chất và nhiệt điện do Cục Kỹ thuật an toàn và Môi trường công nghiệp trình duyệt, Bộ Khoa học và Công nghệ thẩm định, Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành theo Thông tư số 50/2012/TT-BCT ngày 28 tháng 12 năm 2012.

Rủi ro: Là sự kết hợp khả năng xảy ra các sự cố, tai nạn và hậu quả của chúng.

Mức rủi ro: Là khả năng xảy ra tử vong cá nhân do rủi ro trong các hoạt động hoặc công trình gây ra. Ví dụ mức rủi ro 1.00E-0 là khả năng xảy ra rủi ro tử vong 1 người/năm.

Đánh giá rủi ro: Là việc nhận diện, xác định các rủi ro tiềm tàng là cơ sở cho việc đưa ra các biện pháp giảm thiểu rủi ro đến mức hợp lý có thể thực hiện được.

Đánh giá định lượng rủi ro: Là việc phân tích, tính toán tần suất và hậu quả của sự cố dựa trên các phương pháp, dữ liệu đã được công bố và thừa nhận rộng rãi trên thế giới.

Mức rủi ro chấp nhận được: Là mức độ rủi ro cho phép đối với con người.

Đánh giá định lượng rủi ro (QRA)

Phương pháp đánh giá định lượng sử dụng các giá trị được biểu diễn bằng các con số (thay vì là các mức độ / quy mô được mô tả bằng lời trong phương pháp đánh giá định tính) đối với cả hai đại lượng là mức độ nghiêm trọng của hậu quả và xác suất xảy ra sự cố, sử dụng các số liệu từ nhiều nguồn khác nhau. Chất lượng của việc đánh giá phụ thuộc vào mức độ chính xác và mức độ hoàn chỉnh của các giá trị được lượng hóa sử dụng trong đánh giá.

Mức độ hậu quả có thể được ước lượng bằng cách mô hình hóa hậu quả của một hoặc nhiều sự cố, hoặc bằng cách phân tích dữ liệu của các công trình nghiên cứu hoặc các số liệu trong quá khứ. Mức độ thiệt hại của hậu quả có thể được thể hiện bằng số tiền, bằng các tiêu chuẩn về con người hoặc thiết bị công nghệ. Trong một số trường hợp, có thể sử dụng đến hai giá trị biểu diễn bằng con số để xác định hậu quả đối với các thời điểm, địa điểm, nhóm công việc hoặc tình huống khác nhau.

Khả năng xảy ra sự cố thường được thể hiện bằng xác suất, tần suất xảy ra sự cố, hoặc có thể kết hợp giữa yếu tố xác suất và mức độ phơi nhiễm/ tiếp xúc với yếu tố nguy hiểm.

Quy chuẩn QCVN 11 : 2012/BCT quy định về mức rủi ro chấp nhận được đối với con người trong đánh giá định lượng rủi ro cho các hoạt động dầu khí, xăng dầu, hóa chất và nhiệt điện trong phạm vi lãnh thổ, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Mức rủi ro chấp nhận được: Là mức độ rủi ro cho phép đối với con người.

Mức rủi ro đương nhiên được chấp nhận: Là mức rủi ro thấp đến mức việc giảm rủi ro không có ý nghĩa về mặt an toàn.

Đánh Giá Rủi Ro Môi Trường / 2023

ThienNhien.Net – Rủi ro môi trường là các mối đe dọa thực tế hoặc tiềm ẩn tác động lên các sinh vật sống và môi trường thông qua nguồn nước thải, khí thải, chất thải, hoặc gây suy giảm tài nguyên v.v… do hoạt động của một đơn vị (Crawford & Company, 2016). Rủi ro môi trường luôn hiện hữu cùng với sự phát triển kinh tế xã hội và luôn không chắc chắn. Để có một cách nhìn khách quan về các sự cố môi trường, từ đó có các biện pháp ứng phó phù hợp, cần phải hiểu rõ bản chất của các rủi ro môi trường và các phương pháp đánh giá rủi ro, cũng như đưa ra một mô hình đánh giá phù hợp. Các rủi ro môi trường và mô hình đánh giá

Ở các nước phát triển, yêu cầu đánh giá rủi ro đã được thực hiện bài bản theo các phương pháp nhất quán có lồng ghép với các giải pháp quản lý để hạn chế sự cố và ứng phó kịp thời khi sự cố xảy ra. Các phương pháp luận chung đánh giá rủi ro môi trường (ADB, 1997), tại Canada năm 2000 (Ministry of Environment, 2000), tại Anh năm 2011 (Crandfield University, 2011), tại Úc năm 2011 (National Environment Protection Council, 2011) hầu như không có sự khác biệt về phương pháp luận chung dù theo thời gian có sự khác nhau về tính ưu tiên trong đánh giá. Theo đó, sự truyền đạt thông tin được coi là thành phần cơ bản của quá trình ra quyết định; sự phát triển về hiểu biết và thông tin khoa học sẽ trợ giúp cho đánh giá rủi ro và tính xác đáng của đánh giá rủi ro sẽ được cải thiện qua các trường hợp nghiên cứu điển hình.

Đánh giá rủi ro được thực hiện thông qua việc phân tích các hậu quả và khả năng xảy ra của một nguy cơ. Cơ sở đánh giá rủi ro về nguyên tắc được thể hiện trên hình 1 (Crandfield University, 2011). Theo đó, vùng rủi ro thấp được coi là chấp nhận được và chỉ cần yêu cầu quan trắc. Ngược lại, các vùng rủi ro cao được coi là không thể chấp nhận được và phải quản lý rủi ro nghiêm ngặt. Các vùng rủi ro trung bình cần được đánh giá rủi ro để hiểu kỹ hơn những khía cạnh tạo điều kiện nhiều nhất cho rủi ro (Crandfield University, 2011). Hình 2 mô tả các thành phần chính của giai đoạn nhận dạng chính xác vấn đề (Crandfield University, 2011).

Giai đoạn xác định chính xác vấn đề sẽ cho thấy có cần thiết thực hiện đánh giá rủi ro chi tiết hay không và nếu cần thiết sẽ được thực hiện theo hướng nào. Ví dụ về phát triển một mô hình nhận thức Nguồn – Con đường tác động – Nơi tiếp nhận (S-P-R) thể hiện quan hệ nhân quả. Nguồn gốc gây rủi ro (ví dụ phát thải chất ô nhiễm) và các mối quan hệ nhân quả với con đường tác động và nơi tiếp nhận cần phải được nhận dạng rõ ràng để tiếp tục đánh giá rủi ro. Các nghiên cứu phát triển mô hình nhận thức đã đề xuất phương pháp xây dựng các kịch bản đánh giá các nhân tố chính kiểm soát nguy hiểm và đề xuất các chiến lược và chính sách quản lý trong tương lai.

Các giai đoạn cơ bản đánh giá rủi ro môi trường được tóm tắt trên hình 3 (Crandfield University, 2011). Quản lý rủi ro được thực hiện trên cơ sở đặc tính hóa tương đối chính xác rủi ro và phân tích tính không chắc chắn. Phần quản lý này bao gồm cả định giá các biện pháp quản lý rủi ro, phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường.

Việc đưa ra các biện pháp quản lý rủi ro chỉ thực sự hiệu quả khi các giai đoạn đánh giá được thực hiện đầy đủ, chi tiết với các phương pháp đánh giá có độ tin cậy cao. Mô hình cây sự kiện, cây sự cố (ADB, 1997) mô tả phương pháp luận đánh giá xác suất xảy ra sự cố. Tuy nhiên, để phương pháp chính xác, các xác suất thành phần cần phải được cân nhắc kỹ lưỡng và đánh giá các hiệu ứng tích lũy của nhiều nguồn. Các thông số của mô hình đánh giá này phải được hiệu chỉnh và kiểm chứng qua các sự kiện đã xảy ra trong thực tế.

Việc một số mô hình đánh giá xác suất xảy ra được phát triển cho các trường hợp điển hình và được chấp nhận tại một số quốc gia đã làm cho đánh giá rủi ro môi trường được tiếp cận một cách bài bản và hệ thống.

Sau đánh giá, dựa trên cơ sở các nhân tố kỹ thuật, kinh tế, an toàn môi trường, các vấn đề xã hội và các khả năng tổ chức, các chiến lược quản lý rủi ro được lựa chọn theo một trong 5 hướng sau (Crandfield University, 2011): 1. Kết thúc: loại bỏ nguồn ô nhiễm; 2. Giảm thiểu: phòng ngừa, hiệu chỉnh và hướng dẫn; 3. Chuyển nhượng thông qua bảo hiểm, hợp đồng chuyển nhượng và hỗn hợp; 4. Khai thác: thăm dò các cơ hội trong tiếp cận rủi ro; 5. Chấp nhận rủi ro.

Các trường hợp ở Việt Nam và hướng áp dụng mô hình đánh giá rủi ro

Tại Việt Nam, công việc đánh giá rủi ro môi trường chưa thực sự được quan tâm đúng mức và chỉ dừng ở mức độ nghiên cứu tiếp cận theo các mô hình đánh giá rủi ro của các nước phát triển. Tuy nhiên, trong hầu hết các nghiên cứu, các đánh giá định lượng thường chỉ dựa trên đánh giá bằng cảm nhận của chuyên gia nên khó có thể chính xác, đặc biệt trong các trường hợp khi nguyên nhân chính của rủi ro là sự cố của hệ thống công nghệ sản xuất làm các nguồn phát thải chất ô nhiễm tăng đột biến. Trong khi đó, việc dự báo định lượng chính xác các rủi ro lớn tiềm ẩn là cần thiết để có ngay các biện pháp phòng ngừa hợp lý và khi sự cố xảy ra sẽ có ngay các biện pháp ứng phó để giảm thiểu các thiệt hại.

Chính vì vậy, bài viết này đề xuất hướng áp dụng mô hình đánh giá rủi ro sinh thái theo những nét chính của hướng dẫn đánh giá rủi ro sinh thái được áp dụng tại Úc năm 2011 (National Environment Protection Council, 2011). Quy trình tóm tắt đánh giá rủi ro sinh thái được thể hiện trên hình 4 với đánh giá rủi ro sơ bộ và đánh giá rủi ro chính thức. Những thành phần chính của đánh giá rủi ro sinh thái gồm: 1. Nhận dạng vấn đề: thiết lập các mục tiêu và các dữ liệu cần thiết; 2. Nhận dạng bộ thu nhận: tìm ra loài nào có thể bị nguy hiểm, loài nào cần bảo vệ và mức rủi ro chấp nhận được; 3. Đánh giá phơi nhiễm: chỉ ra con đường phơi nhiễm, tính toán thời gian, liều lượng; 4. Đánh giá độc tính: ước tính ngưỡng giới hạn độc tính; 5. Đặc tính hóa rủi ro: tìm được xác suất xảy ra và mức độ thiệt hại khi sự cố xảy ra.

Dựa trên kết quả đặc tính hóa rủi ro, một trong ba quyết định quản lý rủi ro được thực hiện như được trình bày trên hình 4. Trong trường hợp đánh giá rủi ro chính thức, bắt buộc phải sử dụng nhiều dữ liệu thực với việc sử dụng các mô hình được tinh luyện và hiệu chỉnh các thông số để đánh giá chi tiết, chính xác phơi nhiễm nhằm đặc tính hóa rủi ro. Một báo cáo chi tiết phân tích các vấn đề và tính không chắc chắn cũng cần được chuẩn bị kỹ lưỡng để người ra quyết định cân nhắc theo ba hướng đã nêu.

Sức chịu tải môi trường trong đánh giá rủi ro

Khái niệm sức chịu tải môi trường (environmental carrying capacity) là khái niệm phải được chấp nhận đúng và hiểu rõ trước khi thực hiện các đánh giá, tính toán phục vụ quy hoạch và quản lý môi trường. Theo Luật BVMT 2014, “Sức chịu tải của môi trường là giới hạn chịu đựng của môi trường đối với các tác nhân tác động để môi trường có thể tự phục hồi”. Dù chấp nhận định nghĩa này, vẫn cần thiết phải làm rõ hai vấn đề để có thể đưa khái niệm sức chịu tải môi trường áp dụng trong quy hoạch và quản lý môi trường.

Trước tiên, cần xác định đúng được “trạng thái giới hạn” mà môi trường có thể tự phục hồi cho một khu vực. Sau đó, cần đánh giá đúng thải lượng lớn nhất các chất ô nhiễm chính đưa vào khu vực để không làm vượt quá trạng thái giới hạn được xác định. Như vậy, để có thể đánh giá sức chịu tải môi trường tại một khu vực với một mục đích nhất định (ví dụ với môi trường nước để bảo tồn động thực vật thủy sinh), cần xác định đúng các chất cần quan tâm và các giới hạn: nồng độ lớn nhất của các chất ô nhiễm này tại khu vực và lượng thải tối đa của từng chất ô nhiễm đưa vào khu vực.

Tại Việt Nam, cả hai vấn đề này chưa được thực sự quan tâm đúng mức về khía cạnh pháp lý. Ví dụ, QCVN 08-MT:2015/BTNMT về chất lượng nước mặt và QCVN 10-MT:2015/BTNMT về chất lượng nước biển có phần áp dụng để bảo vệ động thực vật thủy sinh nhưng không có nồng độ cho phép đối với clo dư và tổng sunfit. Trong khi đó, một nghiên cứu về ảnh hưởng của clo dư đối với cá chỉ ra nồng độ gây độc cấp tính (LC50-96 h) của clo đối với cá rô phi là 0,7 mg Cl/l (Trần Cẩm Tú, Trương Quốc Phú và Đỗ Thanh Hương, 2011). Mặt khác, QCVN 40:2011/BTNMT về nước thải công nghiệp không có tiêu chuẩn thải cho sunfit. Như vậy, những ngành công nghiệp có tiềm năng thải ra một lượng lớn sunfit sẽ không bị kiểm soát cả về lượng thải và chất lượng nguồn tiếp nhận (nước mặt hoặc nước biển). Ngoài ra, công việc đánh giá cụ thể lượng thải tối đa đưa vào khu vực đòi hỏi phải đủ dữ liệu chính xác và công cụ mô hình hóa tiên tiến nhưng việc áp dụng các mô hình này vẫn dừng ở mức độ nghiên cứu.

Việc đánh giá được sức chịu tải môi trường là điều kiện cần thiết để có thể đánh giá rủi ro sinh thái. Một hoạt động cụ thể nào đó chỉ có thể gây ra rủi ro sinh thái khi hoạt động đó làm cho nồng độ chất ô nhiễm cần quan tâm tại khu vực vượt ngưỡng cho phép (tương ứng với lượng thải vượt ngưỡng tối đa cho phép). Tuy nhiên, tại một khu vực thường có nhiều nguồn thải đồng thời nên cơ quan quản lý môi trường phải xác định được các chất ô nhiễm chính cần quan tâm và tính được chính xác thải lượng tối đa cho phép của các chất ô nhiễm này. Việc dự báo được lượng thải tiềm năng của một chất ô nhiễm khi xảy ra sự cố của một số cơ sở sản xuất là cơ sở để đánh giá rủi ro môi trường tại khu vực. Khi lượng thải các chất ô nhiễm này lớn hơn lượng thải tối đa cho phép, cần phải đánh giá rủi ro môi trường. Công việc đánh giá này liên hệ rất chặt chẽ với lượng thải và tần suất xảy ra sự cố của các cơ sở sản xuất trong khu vực cần quan tâm.

Khuyến nghị trong quản lý rủi ro môi trường ở Việt Nam

Đánh giá rủi ro môi trường cần được tiếp cận một cách hệ thống theo phương pháp của các nước tiên tiến trên thế giới và đưa ra được hướng dẫn đánh giá rủi ro ở tầm cỡ quốc gia. Sơ đồ quy trình đánh giá rủi ro sinh thái của Úc (National Environment Protection Council, 1999&2011) như đã trình bày có thể được áp dụng trong đó chú ý một số điểm chính sau đây:

Trong từng khu vực, trên cơ sở định hướng phát triển kinh tế xã hội, cần rà soát lại các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia nhận dạng đúng được các rủi ro phát sinh và cần kiểm soát được các nguồn thải tiềm năng gây ra sự cố môi trường.

Cần có đánh giá và đánh giá đúng sức chịu tải môi trường của các khu vực có tiềm năng ô nhiễm lớn.

Từng bước đưa ra các yêu cầu cải thiện chất lượng các mô hình đánh giá định lượng để đặc tính hóa chính xác rủi ro.

Cải thiện quá trình ra quyết định trên cơ sở truyền đạt thông tin, hiểu biết khoa học và cải thiện tính xác đáng của đánh giá rủi ro.

Trong thời gian tới, việc quản lý quy hoạch phát triển kinh tế xã hội cần hướng tới giảm thiểu các rủi ro gây thiệt hại môi trường trên cơ sở cải thiện chất lượng đánh giá rủi ro môi trường.

Trịnh Thành – Phó Viện trưởng Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường, Đại học Bách Khoa Hà Nội

ADB (1997). Environmental Impact Assessment for Developing Countries in Asia, Volume 1 – Overview, ADB 1997.

Bộ TN&MT. QCVN 40:2011/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về Nước thải công nghiệp; QCVN 08-MT:2015/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về Chất lượng nước mặt; QCVN 10-MT:2015/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về Chất lượng nước biển.

Crandfield University (2011). Guidelines for Environmental Risk Assessment and Management, Green Leaves III.

Crawford & Company (2016). Environmental Risk: Defined. Nguồn: http://bit.ly/btcs00471

Luật BVMT 2014 số 55/2014/QH13 ngày 23/6/2014.

Ministry of Environment, Lands and Parks (2000). Environmental Risk Assessment (ERA): An Approach for Assessing and Reporting Environmental Condition, Habitat Branch Technical Bulletin 1.

National Environment Protection Council, Guideline on Ecological Risk Assessment, Measure version 2011 and version 1999 (Australia).

Trần Cẩm Tú, Trương Quốc Phú và Đỗ Thanh Hương (2011). Ảnh hưởng của clorine đến sự hình thành hợp chất chloramine và methemoglobine trong máu cá rô phi (Orochromis Niloticus). Tạp chí khoa học 2011:18b, trang 1-9, Trường Đại học Cần Thơ.